PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN SINH LONG ĐƯỜNG

NƠI SỨC KHỎE HỒI SINH – HẠNH PHÚC NÂNG TẦM

CHỮA BỆNH TRĨ BẰNG ĐÔNG Y

1.Thực trạng phát sinh bệnh trĩ theo Đông y và bài thuốc tiêu biểu.

Ở Việt Nam bệnh trĩ có tỷ lệ măc bệnh khá cao từ 30-35% dân số, đứng hàng thứ 3 trong cơ cấu bệnh hậu môn trực tràng.

Kêt quả điều trị phụ thuộc vào chỉ định cho từng loại trĩ và mức độ nặng, nhẹ của bệnh.

Theo y học cổ truyền, nguyên nhân phát sinh bệnh trĩ không chỉ do bệnh lý tại chỗ mà còn do yếu tố toàn thân như âm dương thiếu cân bằng, tạng phủ, khí huyết hư tổn, cùng với thấp, nhiệt phong, táo, ăn uống, nghề nghiệp… gây ra.

Trĩ có nhiều thể tùy thể bệnh với các chứng trạng mà dùng bài thuốc chữa khác nhau:

CHỮA BỆNH TRĨ BẰNG ĐÔNG Y

Thể thấp nhiệt ở đại tràng:

Triệu chứng: Đại tiện ra máu, săc đỏ tươi, số lượng nhiều hoặc ít, trĩ sa theo độ, đau nóng rát hậu môn, đại tiện táo hoặc đau quặn bụng, mót rặn, đại tiện bí khó đi, tiểu tiện vàng, sẻn. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch huyền, tế, sác

Bài thuốc: Hòe hoa 15g, kinh giới tuệ 10g, chỉ xác 10g, hoàng bá 10g, tắc bá diệp( sao cháy) 10g. Sắc uống ngày một thang.

Thể tỳ hư không nhiếp huyết:

Triệu chứng: Đại tiện ra máu tươi, sắc nhạt màu, lượng có thể nhiều ít khác nhau, kèm theo sắc mặt kém tươi nhuận, hồi hộp mệt mỏi, ăn ngủ kém, phân táo lỏng thất thường, trĩ sa. Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế vô lực.

Bài thuốc: Hoàng kỳ 30g, đẳng sâm 20g, bạch truật 12g, bạch linh 12g, đương quy 12g, trần bì 5g, mộc hương 10g, tiên hạc thả 30g, chế hoàng tinh 30g. Sắc uống ngày một thang.

Thể khí hư hạ hãm:

Triệu chứng: Thường thấy ở bệnh nhân có tuổi, mắc bệnh lâu ngày, trĩ sa không tự co, kèm theo sa niêm mạc trực tràng. Chảy máu tươi khi đại tiện ít hơn, sắc nhạt màu, kèm theo tinh thần mệt mỏi suy nhược, hụt hơi, ngại nói, sắc mặt kém tươi nhuận, hồi hộp, váng đầu, ăn ngủ kém, đại tiện phân nát, tiểu tiện trong dài. Chất lưỡi nhạt bệu, rêu lưỡi trắng mỏng. Mạch trầm tế nhược.

Bài thuốc: Sài hồ 8g, bạch truật 12g, trần bì 6g, thăng ma 10g, đẳng sâm 15g, dương quy 12g, hoàng kỳ 10g, chích cam thảo 5g.

Các bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần trong ngày, uống liền 3 tuần( 21 ngày).

2.Dự phòng bệnh trĩ bằng y học cổ truyền:

Trĩ là một trong những bệnh được biết rất sớm ở cả phương Tây và phương Đông. Ở Trung Quốc, hơn 2000 năm trước đây, bệnh trĩ đã được ghi lại trong các y thư cổ như Nội kinh, Thần Nông bản thảo, Y tong kim giám. Năm 1400, trong cuốn Ngoại khoa chính tong, danh y Trần Trực Công đã ghi lại phương pháp điều trị toàn diện bệnh trĩ của Y học cổ truyền. Người Việt Nam ta cũng biết đến bệnh trĩ rất lâu trước khi y học phương Tây xâm nhập. Các y gia lỗi lạc như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông đều đã đề cập đến căn bệnh này trong các trước tác của mình. Cho đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Y học cổ truyền, phương pháp dự phòng và điều trị bệnh trĩ đã được nghiên cứu và phát triển rất phong phú.

Nguyên nhân nào gây nên bệnh trĩ theo y học cổ truyền?

Y học cổ truyền cho rằng đó là do các nhân tố gây bệnh bên ngoài( ngoại tà) như phong, thấp, táo, nhiệt… xâm nhập vào cơ thể làm thương tổn tràng vị, khiến huyết mạch không được lưu thông, kinh lạc bị ứ trệ, thấp nhiệt tụ lại ở đại tràng gây nên. Đồng thời, sự phát sinh bệnh trĩ còn do các nhân tố bên trong( nội nhân) làm rối loạn chức năng của các tạng phủ khiến âm dương mất cân bằng, khí huyết hư nhược, huyết dịch không thông suốt làm tĩnh mạch giãn to mà hình thành trĩ hạ. Như vậy, bệnh lý tuy biểu hiện ở ống hậu môn nhưng kỳ thực lại có quan hệ liên đới với toàn thân. Cụ thể các nhân tố thuận lợi cho sự phát sinh bệnh trĩ là:

– Do thể trạng và cấu trúc ống hậu môn, Y học cổ truyền gọi là “tạng phủ bản hư”.

– Do viêm nhiễm, đặc biệt là rối loạn tiêu hóa lỏng lỵ kéo dài, Y học cổ truyền gọi là “cửu tả cửu lỵ”

– Do yếu tố nghề nghiệp phải ngồi nhiều, đứng lâu, công việc mang vác nặng nhọc.

– Do ăn uống không hợp lý, ăn quá nhiều các đồ cay nóng, cao lương mĩ vị, uống nhiều rượu, bia, cà phê, trà đặc…

– Do táo bón. Sách Ngoại khoa chính tong viết: “Nhẫn đại tiện bất xuất, cửu vi khí trĩ”.

– Do thai sản. Sách Y tong kim giám viết: “Hữu sản hậu dụng lực thái quá nhi sinh trĩ giả”.

– Do dâm dục thái quá, nhập phòng khi say rượu.

Dự phòng thế nào?

Y học cổ truyền rất coi trọng các biện pháp dự phòng bệnh trĩ, Mục đích không chỉ để người khỏe không mắc bệnh mà người đã mắc bệnh thì bệnh cũng nhẹ, sau điều trị không tái phát và không có các biến chứng nặng nề. Một số biện pháp dự phòng cụ thể như sau:

– Phải thường xuyên rèn luyện thể lực bằng các hình thức như tập thể dục, luyện khí công dưỡng sinh, thái cực quyền, yoga, đi bộ…, đặc biệt đối với những người phải ngồi nhiều, đứng nhiều.

– Ăn uống hợp lý và vệ sinh, tránh ăn quá no, uống quá nhiều, hạn chế các thức ăn cay nóng, quá béo quá bổ, không uống nhiều bia rượu, nên ăn nhiều rau tươi và hoa quả các loại. Đặc biệt chú ý trọng dụng các đồ ăn thức uống có tính thanh nhiệt nhuận tràng như cháo đậu xanh, đại tràng lợn, chuối tiêu, đu đủ, rau mồng tơi, rau lang, rau rệu, thanh long, nước cam, nước ép mã thầy, bột sắn dây…

– Tránh bị táo bón. Hàng ngày nên tập thói quen đi đại tiện vào một thời gian nhất định, tốt nhất là vào sang sớm sau khi mới ngủ dậy hoặc sau khi ăn điểm tâm. Thời gian đi không nên quá lâu, không xem sách báo hoặc nghĩ ngợi nhiều khi đại tiện. Dùng hố xí “bệt” tốt hơn hố xí “xổm”. Sauk hi đại tiện nên ngâm rửa hậu môn trong chậu đựng nước ấm là tốt nhất. Khi bị táo bón phải điều trị thật tích cực tránh để trở thành “kinh niên”.

– Phải biết tiết chế tình dục, không nên ham muốn thái quá. Sauk hi uống rượu và làm việc nặng nhọc không nên sinh hoạt chăn gối.

– Khi bị lỏng lỵ phải điều trị thật tích cực, dừng thuốc sớm, đủ liều, đủ ngày, đúng phác đồ, tránh để chuyển thành thể mạn tính kéo dài.

– Hàng ngày nên xoa bụng và day bấm một số huyệt vị châm cứu. Cụ thể: dùng hai bàn tay đặt chồng lên nhau xoa bụng từ phải sang trái theo chiều kim đồng hồ với một lwucj vừa phải, mỗi lần 30-50 vòng, mỗi ngày 2 lần. Kết hợp dùng ngón tay trỏ hoặc ngón tay giữa day ấn hai huyệt: Bách hội( nằm ở đỉnh đầu, là giao điểm giữa đường nối hai đỉnh vành tai khi gấp tai và đường trục dọc đi qua giữa đầu) và Trường cường( nằm ở đầu chót xương cụt), day theo chiều kim đồng hồ, mỗi lần từ 3-5 phút, mỗi ngày 2 lần.

– Nên tập vận động nhíu hậu môn lên mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30 cái.

– Mỗi ngày 2 lần vào buổi sang khi tỉnh giấc và buổi tối trước khi đi ngủ nên tập tư thế phòng chống bệnh trĩ: đầu tiên, chọn tư thế nằm ngửa, ở phần thắt lưng đặt một cái gối, đệm cao phần mông. Tiếp theo, nâng cao hai chân ở tư thế bắt chéo như ngồi xếp bằng tròn. Khi nâng cao phần mông không dùng lực, thả lỏng cơ hậu môn, duy trì tư thế này trong 2 đến 3 phút. Ở tư thế này, do mông cao hơn tim nên máu không ứ ở hậu môn trực tràng, cơ hậu môn được thả lỏng tạo điều kiện cho huyết dịch lưu thông tốt.

– Khi đói bụng nên tập tư thế yoga như sau: đứng thẳng hai chân, thân mình hơi nghiêng về phía trước, hai tay chống thẳng lên giữa bắp đùi, hít vào một hơi dài rồi từ từ thở ra đồng thời bụng thót vào hết cỡ, kết hợp với động tác nhíu hậu môn. Giữ trạng thái này và nín thở càng lâu càng tốt. Tư thế này cũng có thể tập trong lúc ngồi thiền. Nó có tác dụng phòng ngừa bệnh trĩ rất tốt, ngoài ra còn góp phần trị liệu các bệnh lý sa phủ tạng, táo bón và di tinh. Vì tư thế này tập trong lúc đói nên còn gọi là thế “trống lòng”.

Các biện pháp trên đây có ý nghĩa dự phòng bệnh trĩ rất tốt nếu được thực hiện một cách đầy đủ, thường xuyên, liên tục và đúng quy cách.

4.Điều trị bệnh trĩ bằng Đông y.

Tùy vào vị trí của búi trĩ, người ta phân thành 3 loại: trĩ nội, trĩ ngoại( búi trĩ ở ngay ngoài hậu môn) và trĩ hỗn hợp( bao gồm cả trĩ nội và trĩ ngoại). Riêng với trĩ nội, phụ thuộc vào mức độ sa ra ngoài của búi trĩ, bệnh được chia thành 4 độ.

Theo Đông y, nên điều trị bảo tồn trĩ độ 1, 2, trĩ độ 3 ở thời kỳ viêm tắc và bội nhiễm, trĩ ở người già. Tùy từng trường hợp mà có các cách điều trị.

5.Tự chữa bệnh bằng Đông y.

Do quan niệm “thập nhân cửu trĩ” ( 10 người thì 9 người bị trĩ) nên kho tàng kinh nghiệm chữa trĩ của Đông y rất phong phú và hiệu quả. Bạn có thể tham khảo một số bài thuốc và cách thức bấm huyệt để điều trị bệnh này.

Tự bấm huyệt:

Các huyệt chủ yếu được chọn là Bách hội, Thượng liêm, Khổng tối, Thừa sơn, Phục lưu.

Khổng Tối là huyệt khích của Thủ thái âm Phế kinh, có vị trí nằm ở gần khuỷu tay, cách cổ tay lên trên 7 thốn( nếu tính từ lằn chỉ cổ tay đến lằn nếp khuỷu là 12 thốn thì huyệt vị này có vị trí bằng 7/12 khoảng cách trên).

Thượng liêm là huyệt thuộc kinh Thủ dương minh Đại tràng, nằm dưới đầu ngoài nếp gấp ở khuỷu tay 3 thốn.

Túc Tam lý là huyệt thuộc kinh Túc dương minh vị, có vị trí nằm ở gần đầu gối ngang một bàn tay khoảng 3 thốn. Khi phối hợp với huyệt Thừa sơn, nó có tác dụng sơ thông trệ khí ở tràng vị( ruột và dạ dày). Cổ nhân cho rằng tràng vị hòa thì nhiệt độc được thanh, bệnh lỵ và trĩ sẽ khỏi.

Bách hội có vị trí nằm chính giữa đỉnh đầu, giao điểm của đường chính trung và đường nối hai đỉnh vành tai. Theo tài liệu cổ, bách hội là nơi hội tụ của lục phủ ngũ tạng, có tác dụng nâng được dương khí bị hạ hãm.

Thừa sơn là huyệt thuộc kinh Túc thiếu dương bang quang, nằm ở bắp chân, chỗ trũng của 2 bắp cơ sinh đôi, khi co bắp chân sẽ hiện rõ khe của cơ sinh đôi này. Theo Đông y, Thừa sơn có tác dụng làm mát huyết, điều hòa khí các phủ, trị trĩ, sa trực tràng.

các bài thuốc trên chỉ mang tính chất tham khảo. Hãy gọi cho bác sĩ để đuọc tư vấn chính sác và phù hợp với thể bệnh của bạn.

Số các bác sĩ phòng khám Đông Y Sinh Long Đường 0974.07.04.85 hay 0915.180.628

Để điều trị bệnh hiệu quả nhất hãy dùng thuốc nam, trước khi đi cắt trĩ.

Bạn có thể xem thêm!NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH, CÁC YẾU TỐ THUẬN LỢI PHÁT SINH BỆNH TRĨ

Tư Vấn                                                                                   đặt Thuốc (2)

Nguồn sách Bệnh Trĩ Và Cách Chữa.

0974.070.485