PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN SINH LONG ĐƯỜNG

NƠI SỨC KHỎE HỒI SINH – HẠNH PHÚC NÂNG TẦM

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH, CÁC YẾU TỐ THUẬN LỢI PHÁT SINH BỆNH TRĨ

Nguyên nhân gây bệnh:

Nguyên nhân gây bệnh trĩ đã được nói đến từ rất lâu, trước cả thời kỳ Phong kiến ở nước ta. Người ta đã nêu rất nhiều nguyên nhân và yếu tố thuận lợi để bị bệnh trĩ như: yếu tố di truyền, có tính gia đình; có những rối loạn nhu động ruột như táo bón, ỉa chảy, mót rặn…; thay đổi nội tiết theo chu kỳ gồm trước chu kỳ kinh nguyệt, mang thai sinh đẻ nhiều…; có bệnh phổ biến làm tăng áp lực tĩnh mạch cửa, thoát vị bẹn, bệnh đường sinh dục, tiết niệu, gan… hay tư thế làm việc: đứng hay ngồi nhiều, ít đi lại và vận động, thế nhưng nguyên nhân thực sự của bệnh vẫn chưa được xác định rõ ràng và chắc chắn.

Bản chất của trĩ: là các đám rối mạch máu trong ống hậu môn, khi máu không được lưu thông, bị ứ đọng lại tĩnh mạch căng và giãn dần, tùy từng mức độ gây nên nhiều hay ít búi trĩ. Tĩnh mạch bị căng phồng đẩy niêm mạc ống trực tràng bị giãn theo, do thành mạch căng nên máu dễ bị thẩm thấu ra ngoài và nhìn sẽ thấy niêm mạc sa xung huyết và dễ vỡ. Lâu ngày mức độ giãn nặng hơn và sa ra ngoài.

Có nhiều nguyên nhân gây bệnh trĩ và những yếu tố thuận lợi sinh ra bệnh, được tập trung vào 4 nhóm chính:

– Nhóm bệnh lý đường tiêu hóa: Hội chứng lỵ, viêm đại tràng mạn tính, rối loạn tiêu hóa kéo dài, táo bón… khiến cho người bệnh đi ngoài phải rặn nhiều, thời gian đại tiện lâu tạo điều kiện phát sinh bệnh trĩ.

+ Táo bón kinh niên: Những bệnh nhân này mỗi khi đi cầu rặn nhiều, khi rặn áp lực trong long ống hậu môn tăng lên gấp 10 lần. Táo bón lâu ngày làm xuất hiện các búi trĩ. Các búi trĩ dần dần to lên và khi to quá sẽ sa ra ngoài.

+ Hội chứng lỵ: Những bệnh nhân bị bệnh lỵ mỗi ngày đại tiện nhiều lần và mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều làm tăng áp lực trong ổ bụng.

– Sự suy yếu tổ chức nâng đỡ tại chỗ, làm tăng áp lực ổ bụng: Do lớp cơ ở dưới niêm mạc hậu môn trực tràng, hệ thống co thắt, dây chằng, cơ nâng bị suy yếu, hệ thống đám rối tĩnh mạch suy yếu sa giãn hình thành búi trĩ. Những bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, những bệnh nhân giãn phế quản, phải ho nhiều, những người làm lao động nặng như khuân vác… làm tăng áp lực trong ổ bụng, dễ dàng cho bệnh trĩ xuất hiện.

– Yếu tố cơ học: Thai sản ở phụ nữ, các khối u vùng tiểu khung( u xơ tử cung, u nang buồng trứng, u phì đại tuyến tiền liệt…), bệnh lý tăng áp lực tĩnh mạch cửa, chủ, gây ứ máu ở đám rối tĩnh mạch trĩ.

– U bướu hậu môn trực tràng và vùng chung quanh: như ung thư trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, thai nhiều tháng… khi to có thể chèn ép và cản trở đuồng về tĩnh mạch hồi lưu làm cho các đám rối trĩ căng phồng lên tạo thành bệnh trĩ. Trong những trường hợp này, trĩ được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng, khi điều trị ta phải điều trị nguyên nhân chứ không trị như bệnh trĩ.

– Các nguyên nhân gây bệnh trĩ khác:

+ Chế độ ăn: Ăn nhiều thức ăn cay nóng, kích thích như ớt, hạt tiêu, rượu…

+ Nghề nghiệp: Ngồi lâu, đứng lâu, lao động nặng nhọc, ngồi xổm, thói quen nhịn địa tiện( khi nghiên cứu áp lwucj tĩnh mạch trĩ, người ta ghi nhận áp lực tĩnh mạch trĩ là 25cm H2O ở tư thế nằm, tăng vọt lên 75cm H2O ở tư thế đứng. Vì vậy, tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở người phải đứng lâu, ngồi nhiều, ít đi lại như thư ký bàn giấy, nhân viên bán hàng, thợ may…

+ Ngoài ra bệnh trĩ còn mang yếu tố gia đình.

Bạn xem thêm triệu chứng của bệnh trĩ tại đây!

Người mắc bệnh trĩ có các biểu hiện lâm sàng:

-Chảy máu:

Đặc điểm: Chảy máu tươi khi đại tiện, tự cầm khi kết thúc cuộc đi ngoài.

Chảy máu là biểu hiện sớm nhất, hay gặp nhất, hình thức chảy máu và số lượng chảy rất khác nhau. Lúc đầu chảy máu kín đáo, máu dính theo phân, về sau chảy máu nhỏ giọt hoặc phun thành tia sau mỗi khi rặn đi ngoài. Bệnh diễn biến mạn tính lâu ngày có thể dẫn đến tình trạng suy nhược thiếu máu.

Trĩ sa: Trĩ độ II trở lên, búi trĩ sa ra ngoài hậu môn tạm thời hoặc thường xuyên, đôi khi còn chảy dịch ẩm ướt khó chịu.

Đau: Trĩ nội bình thường không đau mà có cảm giác tức nặng ở hậu môn, chỉ đau khi có biến chứng: trĩ tắc mạch, trĩ nghẹt, trĩ viêm hoặc trĩ kết hợp với một bệnh khác như nứt kẽ, áp xe, rò hậu môn, viêm ống hậu môn…

Trĩ có nhiều thể khác nhau, được chia thành trĩ nội, trĩ ngoại, trĩ hỗn hợp và trĩ biến chứng.

Ngăn chặn các yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trĩ

Ai cũng có thể mắc bệnh trĩ nếu có thói quen ăn uống sinh hoạt thiếu khoa học. Bởi vậy, cần đề phòng bệnh bằng cách tạo thói quen sinh hoạt khoa học hàng ngày như:

– Tập thói quen đi ngoài đều đặn hàng ngày vào một giờ nhất định. Chú ý vệ sinh sạch sẽ hậu môn.

– Điều chỉnh thói quen ăn uống:

+ Tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà.

+ Tránh các thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu.

+ Uống nước đầy đủ

+ Chế độ ăn uống nhiều chất xơ, rau quả. Nếu bị táo bón nên điều trị ngay bằng cách ăn nhiều rau xanh, khoai lang, chuối… đều là những thực phẩm giúp đẩy lùi chứng táo bón.

– Vận động thể lực: nên tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ…

– Tập thót hậu môn từu 30-50 lần mỗi sáng ngủ dậy và trước khi đi ngủ.

– Không ngồi lâu một chỗ, nên vận động nhẹ nhàng.

– Điều trị các bệnh mạn tính hiện có như viêm phế quản, giãn phế quản, bệnh lỵ…

– Vệ sinh tại chỗ tốt bằng phương pháp ngâm nước ấm 2-3 lần/ ngày, mỗi lần 15 phút.

– Thuốc uống: gồm các thuốc có tác nhân  trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid. Cơ chế tác động của các thuốc này là làm gia tăng trương lực tĩnh mạch, bảo vệ vi tuần hoàn, giảm phù nề nhờ tác động kháng viêm tại chỗ, chống viêm trùng và chống tắc mạch.

Thuốc tại chỗ: gồm các loại thuốc mỡ(pommade) và đạn dược(suppositoire) bao gồm các tác nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ và dẫn xuất trợ tĩnh mạch.

Nguồn sách Bệnh Trĩ Và Cách Điều Trị

Bạn cần tư vấn thêm để điều trị hãy cách khắc phục bệnh hãy gọi hoặc để lại thông tin Bác Sĩ Phòng Khám Đông Y Sinh Long Đường tư vấn miễn phí 0974.07.04.85 hay 0915.180.628.

Tư Vấn                                             đặt Thuốc (2)

0974.070.485