Sỏi Tiết Niệu

ĐẠI CƯƠNG SỎI TIẾT NIỆU

Sỏi đường tiết niệu là một bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi và đặc biệt từ 18 tuổi trở lên. Sỏi tiết niệu chiếm 30-40% tổng số bệnh nhân bị bệnh tiết niệu. Sỏi tiết niệu thường gây nhiều biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng bệnh nhân. Cách chữa các loại sỏi xem bên dưới

Vinh Danh Bảng Vàng Sinh Long đường

1.Nguyên nhân bệnh sinh

Hàng ngàn năm nay người ta đã cố gắng tìm căn nguyên nhân gây nên bệnh sỏi tiết niệu, nhưng cho đến nay vẫn tồn tại nhiều học thuyết về sự phát sinh và phát triển của bệnh, chưa có học thuyết nào giải thích hoàn toàn đầy đủ sự phát triển bệnh.Nhiều học thuyết đề cập đến các yếu tố chính liên quan đến quá trình hình thành sỏi.

Ngày nay,dựa vào hiểu biết về bản chất hóa học của sỏi tiết niệu,về cấu trúc vi thế và sinh lý của hệ thống tiết niệu, người ta chia sỏi  tiết niệu thành 2 nhóm nguyên nhân: sỏi cơ thế và sỏi cơ quan.

Sỏi cơ thể dùng để chỉ những sỏi tiết niệu có nguồn gốc các bệnh lý, các rối loạn chức năng cơ quan khác, các bệnh lý toàn thân. Có thể kể đến các bệnh như cường năng tuyến cận giáp trạng, bệnh Goutte, những chấn thương  nặng của xương,chứng tăng canxi máu do nhiều nguyên nhân…

Sỏi cơ quan dùng để chỉ sỏi tiết niệu có nguồn gốc từ các tổn thương ở hệ thống tiết niệu như: phình to bể thận bẩm sinh, chít hẹp khúc nối bể thận niệu quản, dị dạng thận và mạch máu thận , túi thừa niệu quản, túi thừa bàng quang hay niệu đạo…

Những tổn thương vị thể tại thận có mối liên quan tới sự hình thành sỏi, là sự lắng đọng muối vôi vào những vết chợt lở loét ở lớp biểu mô. Cơ chế hình thành sỏi tiết niệu còn phức tạp, chưa được xác định rõ ràng.

Tuy vậy, nhiều tác giả đã xây dựng một số thuyết để mô tả cơ chế hình thành sỏi tiết niệu như sau:

+ Thuyết  “keo-tinh thể” cho rằng nhiều chất muối vô cơ và hữu cơ tồn tại trong nước tiểu dưới dạng tinh thể, các tinh thể này được bao bọc bởi một lớp chất keo (bản chất là các albumin, mucoprotein, axit nucleotid do tế bào biểu mô ống sinh niệu tiết ra) làm cho các chất tinh thể không thể kết dính được với nhau để tạo nên sỏi. Khi cân bằng này bị phá vỡ (tăng mật độ tinh thể, giảm mật độ chất keo) các tinh thể này có cơ hội kết dính với nhau tạo thành sỏi.

+Thuyết “ hạt nhân” khẳng định mỗi viên sỏi tiết niệu đều được hình thành một “hạt nhân” ban đầu. Đó là các dị vật xuất hiện trong hệ tiết niệu (những đoạn chỉ không tiêu, những mảnh cao su,mảnh ống dẫn lưu, mảnh kim khí…). Đôi khi người ta còn xác định được hạt nhân của sỏi còn là những tế bào thoái hóa, tế bào mủ, xác vi khuẩn, tổ chwusc hoại tử, khối máu hóa giáng… Những hạt nhân này để các muối canxi, phốt pho, magie bám vào, bồi đầy dần để tạo thành những viên sỏi.

+Thuyết nhiễm khuẩn xác định tương quan nhân quả giữa nhiễm khuẩn niệu và sỏi. Nhiễm khuẩn niệu tọa ra nhiều tiểu thể để trở thành hạt nhân hình thành sỏi. Mặt khác một số chủng loại vi khuẩn (Proteus, Pseudomonas…) có thể phân hủy ure bởi men ureaza tạo ra các gốc amoni, magie… tạo điều kiện hình thành sỏi.

Có thể nói mỗi thuyết chỉ giải thích được một khía cạnh,một giai đoạn của quá trình rất phức tạp, tinh vi của cơ chế hình thành sỏi tiết niệu. Vấn đề này sẽ còn được nghiên cứu , khám phá bổ sung sau này.

Tuy nhiên nhiều tác giả nhận thấy có các yếu tố thuận lợi ảnh hưởng đến quá trình hình thành sỏi tiết niệu như sau:

-Yếu tố di truyền: Maxquardt (1973), Ging liani (1985) thấy bệnh nhiễm acid ống thận là bệnh di truyền thường gặp với sỏi tiết niệu. Sỏi cystin thường thấy ở bệnh nhân có kiểu gen đồng hợp tử gây đái ra cystin, onithine, lysin, arginin. Sỏi uric hay có ở những người bị bệnh Guot. Sỏi canxi có tính gia đình, có những gia đình bị bệnh tăng canxi nguyên phát và họ bị sỏi canxi từ rất trẻ.

đông y gia truyền lâu đời

-Yếu tố dị dạng đường nệu bẩm sinh: là nguyên nhân thuận lợi để tạo sỏi do ứ đọng nước tiểu, do nhiễm khuẩn. Các dị dạng thường gặp như: hẹp khúc nối bể thận- niệu quản,hẹp niệu quản, phình niệu quản.

-Yếu tố địa lý khí hậu: có một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành sỏi như khí hậu nóng và khô ở các vùng xa mạc và nhiệt đới là yếu tố môi trường tác động nhiều đến quá trình hình thành sỏi.

-Yếu tố ăn uống: thực tế cho thấy ở những người ăn thịt nhiều thì gặp tỷ lệ sỏi urat cao, người có chế độ ăn uống thiếu vitamin A dễ làm sừng hóa tổ chức liên bào dài bể thận và chính quá trình này sẽ gây ra sỏi tiết niệu. Ăn sữa nhiều thì gặp sỏi phốt phát.

-Gãy xương lớn: do bất động lâu ngày là nhân tố chính trong cơ chế hình thành sỏi và thêm vào đó là sự tăng nồng độ canxi và photpho trong máu.

– Nhiễm khuẩn đường tiết niệu: do nhiều nguyên nhân khác nhau hoặc do ứ đọng trên đường tiết niệu cũng là yếu tố thuận lợi cho hình thành sỏi. Qúa trình viêm nhiễm đường tiết niệu làm thay đổi Ph nước tiểu, làm thay đổi lớp tế bào biểu mô của lát đường niệu dẫn đến rối loạn bài tiết tại thận, số lượng các mucoprotein trong nước tiểu tăng lên rõ rệt. Các sản phẩm của quá trình viêm tế bào thoái hóa, tế baofmur, xác vi khuẩn tạo thành các nhân sỏi.

– Sự rối loạn chuyển hóa của cơ thể trong những bệnh nhân cường năng tuyến cận giáp, canxi trong máu tăng và thải nhiều qua đường niệu để tạo lên sỏi.

  1. Tính chất và đặc điểm của sỏi

2.1 Số lượng Không hạn định có thể tự một viên đến hàng trăm viên. Ở khoa Tiết niệu Viện 103, bệnh nhân nhiều sỏi nhất được ghi nhận là: 1988 viên sỏi.

2.2.Kích thước và trọng lượng sỏi: Tùy theo vị trí của đường tiết niệu. Trọng lượng sỏi từ vài gam đến vài trăm gam.

2.3. Hình dạng sỏi Rất đa dạng có một số hình dạng đặc biệt như hình sỏi san hô, hình mỏ vẹt, hình bầu dục và hình tròn.

2.4. Vị trí của sỏi Có thể gặp sỏi dài bể thận,sỏi niệu quản, sỏi bàng quang, sỏi tiền liệt tuyến và sỏi niệu đạo. Trong đó sỏi thận là sỏi nguyên phát còn sỏi niệu quản, sỏi bàng quang, sỏi niệu đạo thường là thứ phát do rơi từ trên xuống. Trừ những trường hợp đặc biệt do dị vật, do túi thừa dẫn đến hình thành sỏi tại hỗ niệu quản và bàng quang.

  1. Thành phần hóa học của sỏi

Có rất nhiều loại sỏi, mỗi loại sỏi có đặc điểm khác nhau về màu sắc và độ rắn.

Có 2 nhóm sỏi chính: sỏi vô cơ và sỏi hữu cơ.

3.1 Sỏi vô cơ:

+ Sỏi oxalat canxi: hay gặp mầu đen, gai góc cản quang rõ.

+ Sỏi photphat canxi: có mầu vàng nhạt hoặc trắng bẩn, độ rắn kém hơn Sỏi oxalat canxi, dễ vỡ.

+ Sỏi cacbonat canxi: có mầu trắng như mầu phấn, mềm dễ vỡ.

3.2 Sỏi hữu cơ:

+ Sỏi urat: mầu trắng gạch cua, có thể không cản quang mềm và hay tái phát.

+ Sỏi cholesterin: có mầu vàng, dễ vụn nát và thường gặp sỏi tiền liệt tuyến.

+ Sỏi xystin: nhẵn, màu vàng nhạt, mềm hay tái phát, thường gặp ở cả hai thận do rối loạn chuyển hóa axit amin.

+ Sỏi struvic; (amonium magnéium- photphat hexa hydrat) mầu vàng trắng rắn, thường do nhiễm khuẩn đường niệu loại proteus sinh ra.

Ở người Việt Nam gặp chủ yếu là sỏi vô cơ trong đó sỏi oxalat canxi chiếm hơn 80%, thường sỏi tồn tại ở dưới dạng hỗn hợp đan xen giữa các thành phần hóa học.

Khi bạn mua hàng của Sinh Long Đường một lần. Sinh Long Đường chắc chắn bạn sẽ mua hàng lần thứ 2. Bởi Phòng Khám Sinh Long Đường hiểu rằng : Sự Yêu Mến, Tin Tưởng Của Bạn  Quyết Định Sự Tồn Tại Của Sinh Long Đường!Rất mong sự ủng hộ của Quý Khách. Xin chân thành cảm ơn!

Cách Điều Trị các loại sỏi trên  xem tại đây Bài Viết Dựa Trên Sách sỏi đường tiết niệu.

☘☘☘hãy liên hệ với chúng tôi

Phòng Khám Đông Y Sinh Long Đường

✪ Chuyên khoa điều trị các bệnh liên quan đến bệnh Phụ khoa – Nam khoa – Bệnh xã hội – Trĩ

✪ SĐT tư vấn và đặt hẹn: 0974.07.04.85 – 0915.180.628

✪ Địa chỉ: Cơ sở 1:xóm Mới,Kiều Đoài,Đại Xuyên,Phú Xuyên,HN

TEL ☎️☎️ 0974070485

Cơ sở 2: đối diện CT8A Đại Thanh ,Tả Thanh Oai,Thanh Trì ,HN

TEL☎️☎️ 0915180628

✪ Khám chữa bệnh ngoài giờ hành chính: từ 8h00 – 20h30 tất cả

các ngày trong tuần kể cả thứ 7 chủ nhật và ngày lễ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0974.07.0485